Một thoáng Hàn Quốc 5: Áp lực công bố quốc tế
Trong hội nghị lần này tôi gặp một em nghiên cứu sinh người Việt tên là NTL. Em này từng học cao học ở đây, về VN tìm cơ hội nhưng hình như không thành công, rồi lại tìm học bổng của Hàn Quốc sang đây học tiếp chương trình tiến sĩ. Em theo đuổi một dự án nghiên cứu cơ bản về xương và ung thư. Nhóm của em L có khoảng 7 người đi dự hội nghị này, và người đứng đầu là một assistant professor từ Mĩ về. Thử tưởng tượng gặp đồng hương trong hội nghị như thế này thì “tay bắt mặt mừng” biết bao. Có lẽ em ấy thích thú là vì hội nghị có một khách mời họ Nguyễn, nên sau khi tôi giảng xong là em đến làm quen ngay.
Qui định phát-xít trong học thuật
Trò chuyện với L, tôi biết chút chút về qui trình đào tạo tiến sĩ và áp lực công bố quốc tế ở đây rất lớn. Cũng như bất cứ đại học phương Tây nào, thời gian để hoàn tất chương trình tiến sĩ là 4 năm. Trong vài trường hợp khác và tùy thuộc vào hoàn cảnh, thời gian theo học tiến sĩ có thể là 5 năm. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng đối với các nghiên cứu sinh ngành y sinh học nói chung thì họ học và làm cật lực. Chẳng những làm cật lực mà còn phải cạnh tranh với các lab trên thế giới. Em L cho biết thầy cũng như trò suốt ngày ngồi trong lab, có những tuần không bao giờ thấy ánh nắng mặt trời, vì giờ về thường là 10 đến 11 giờ đêm. Nhưng lab của em không phải là đặc thù, vì hầu hết tất cả các lab khác cũng thế. Làm cho xong việc (xong thí nghiệm) chứ không phải hết giờ.
Tất cả các nghiên cứu sinh ở đây phải có công bố quốc tế trước khi bảo vệ (hay nộp) luận án. Tuy nhiên, qui định cụ thể thì mỗi nơi mỗi khác. Có trường nổi tiếng như Postech (Pohang University of Science and Technology) thì nghe nói họ đòi hỏi nghiên cứu sinh phải có đủ 12 điểm trước khi bảo vệ luận án; mỗi điểm là 1 impact factor (IF) của tập san. Qui định này có nghĩa là nếu nghiên cứu sinh công bố 3 bài báo trên tập san có IF 3, 4, 5 (tổng cộng 12) thì mới được bảo vệ luận án. Lần đầu tiên tôi nghe đến qui định này và lấy làm ngạc nhiên lắm.
Nhưng có lẽ chính vì qui định khắt khe này mà Hàn Quốc chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc khoa học. Về số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, Hàn Quốc đã có một bước nhảy vọt chẳng kém gì China. Năm 1990, tổng số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế chỉ 1,382 bài (tức xấp xỉ con số của Việt Nam hiện nay). Vậy mà đến năm 2008, con số này đã là 26,690 bài, tức tăng 20 lần trong vòng chưa đầy 20 năm!
Nhìn người lại nghĩ đến ta
Tôi nghĩ câu chuyện về đào tạo tiến sĩ ở Hàn Quốc rất liên quan với tình hình ở Việt Nam. Có thể nói ngắn gọn rằng chương trình đào tạo tiến sĩ ở VN (tôi chỉ nói lĩnh vực y học, nhưng có lẽ cũng áp dụng cho nhiều ngành khác) hiện nay chưa đạt chuẩn mực quốc tế về học vị này. Mục tiêu chính của chương trình tiến sĩ là đào tạo ra những nhà khoa học chuyên nghiệp (professional scientists). Điều này đòi hỏi cách thức đào tạo phải tập trung, tức nghiên cứu sinh phải tập trung toàn thời gian cho việc nghiên cứu và học hành. Dĩ nhiên, cũng có thể đào tạo theo mô hình bán thời gian (vừa học vừa làm), nhưng thời gian đào tạo phải 6 năm trở lên. Còn ở VN thì mô hình đào tạo chẳng giống ai và không tập trung. Nghiên cứu sinh vẫn tại chức và việc nghiên cứu của họ không được thầy cô giám sát chặt chẽ. Có thể nói không ngoa rằng phần lớn nghiên cứu sinh chỉ “tự bơi”, và người thầy hướng dẫn chỉ có tên trên giấy chứ trong thực tế thì chẳng có vai trò gì quan trọng. Lại có trường hợp người ta “nhét” một thầy cô nào đó mà hội đồng nghĩ rằng luận án này cần phải có chuyên môn của thầy cô đó, thật chẳng ra thể thống học thuật gì cả!
Vấn đề đầu ra trong đào tạo cũng đáng bàn ở đây. Ở nhiều nước tiên tiến và đang phát triển, kể cả Thái Lan và Mã Lai, đầu ra của chương trình đào tạo là những bài báo công bố trên các tập san quốc tế. Ở Thái Lan, họ đòi hỏi nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 bài trước khi bảo về luận án. Còn ở các nước Bắc Âu thì thông thường là 3-4 bài, và những bài này được đưa vào luận án trong phần kết quả nghiên cứu. Nhưng ở VN, chương trình đào tạo tiến sĩ chưa có những đòi hỏi về đầu ra gắt gao như ở nước ngoài. Do đó, việc học của họ rất … thoải mái. Có nơi lại còn có qui định trái chiều rằng nghiên cứu sinh không được công bố bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án! Với tiêu chuẩn đào tạo như thế, làm sao người tốt nghiệp có thể cạnh tranh với các đồng môn ở nước ngoài. Học vị tiến sĩ của VN có lẽ chỉ để VN sử dụng là chính.
Trong thời gian hơn 10 năm qua, tôi đã nhiều lần lên tiếng và góp ý về chương trình đào tạo tiến sĩ ở VN. Trong thời gian qua tình hình cũng có vài chuyển biến, nhưng nhìn chung thì chẳng theo chiều hướng tích cực hơn. Các quan chức vẫn nói đến hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục đại học, năng suất khoa học còn thấp, v.v. nhưng vấn đề đào tạo tiến sĩ còn sờ sờ trước mắt mà họ không giải quyết thì nói đến những chuyện khác có lẽ chỉ phí thì giờ. Theo tôi, nên ngưng một số chương trình đào tạo tiến sĩ để rà soát lại các chương trình đào tạo. Nếu nơi nào không đáp ứng tiêu chuẩn thì nên đóng cửa, không nên luyến tiếc. Phải dẹp bỏ những qui định hành chính vô duyên để tập trung vào các tiêu chuẩn khoa học.
Nguồn: Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Trong hội nghị lần này tôi gặp một em nghiên cứu sinh người Việt tên là NTL. Em này từng học cao học ở đây, về VN tìm cơ hội nhưng hình như không thành công, rồi lại tìm học bổng của Hàn Quốc sang đây học tiếp chương trình tiến sĩ. Em theo đuổi một dự án nghiên cứu cơ bản về xương và ung thư. Nhóm của em L có khoảng 7 người đi dự hội nghị này, và người đứng đầu là một assistant professor từ Mĩ về. Thử tưởng tượng gặp đồng hương trong hội nghị như thế này thì “tay bắt mặt mừng” biết bao. Có lẽ em ấy thích thú là vì hội nghị có một khách mời họ Nguyễn, nên sau khi tôi giảng xong là em đến làm quen ngay.
Qui định phát-xít trong học thuật
Trò chuyện với L, tôi biết chút chút về qui trình đào tạo tiến sĩ và áp lực công bố quốc tế ở đây rất lớn. Cũng như bất cứ đại học phương Tây nào, thời gian để hoàn tất chương trình tiến sĩ là 4 năm. Trong vài trường hợp khác và tùy thuộc vào hoàn cảnh, thời gian theo học tiến sĩ có thể là 5 năm. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng đối với các nghiên cứu sinh ngành y sinh học nói chung thì họ học và làm cật lực. Chẳng những làm cật lực mà còn phải cạnh tranh với các lab trên thế giới. Em L cho biết thầy cũng như trò suốt ngày ngồi trong lab, có những tuần không bao giờ thấy ánh nắng mặt trời, vì giờ về thường là 10 đến 11 giờ đêm. Nhưng lab của em không phải là đặc thù, vì hầu hết tất cả các lab khác cũng thế. Làm cho xong việc (xong thí nghiệm) chứ không phải hết giờ.
Tất cả các nghiên cứu sinh ở đây phải có công bố quốc tế trước khi bảo vệ (hay nộp) luận án. Tuy nhiên, qui định cụ thể thì mỗi nơi mỗi khác. Có trường nổi tiếng như Postech (Pohang University of Science and Technology) thì nghe nói họ đòi hỏi nghiên cứu sinh phải có đủ 12 điểm trước khi bảo vệ luận án; mỗi điểm là 1 impact factor (IF) của tập san. Qui định này có nghĩa là nếu nghiên cứu sinh công bố 3 bài báo trên tập san có IF 3, 4, 5 (tổng cộng 12) thì mới được bảo vệ luận án. Lần đầu tiên tôi nghe đến qui định này và lấy làm ngạc nhiên lắm.
Nhưng có lẽ chính vì qui định khắt khe này mà Hàn Quốc chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc khoa học. Về số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, Hàn Quốc đã có một bước nhảy vọt chẳng kém gì China. Năm 1990, tổng số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế chỉ 1,382 bài (tức xấp xỉ con số của Việt Nam hiện nay). Vậy mà đến năm 2008, con số này đã là 26,690 bài, tức tăng 20 lần trong vòng chưa đầy 20 năm!
Nhìn người lại nghĩ đến ta
Tôi nghĩ câu chuyện về đào tạo tiến sĩ ở Hàn Quốc rất liên quan với tình hình ở Việt Nam. Có thể nói ngắn gọn rằng chương trình đào tạo tiến sĩ ở VN (tôi chỉ nói lĩnh vực y học, nhưng có lẽ cũng áp dụng cho nhiều ngành khác) hiện nay chưa đạt chuẩn mực quốc tế về học vị này. Mục tiêu chính của chương trình tiến sĩ là đào tạo ra những nhà khoa học chuyên nghiệp (professional scientists). Điều này đòi hỏi cách thức đào tạo phải tập trung, tức nghiên cứu sinh phải tập trung toàn thời gian cho việc nghiên cứu và học hành. Dĩ nhiên, cũng có thể đào tạo theo mô hình bán thời gian (vừa học vừa làm), nhưng thời gian đào tạo phải 6 năm trở lên. Còn ở VN thì mô hình đào tạo chẳng giống ai và không tập trung. Nghiên cứu sinh vẫn tại chức và việc nghiên cứu của họ không được thầy cô giám sát chặt chẽ. Có thể nói không ngoa rằng phần lớn nghiên cứu sinh chỉ “tự bơi”, và người thầy hướng dẫn chỉ có tên trên giấy chứ trong thực tế thì chẳng có vai trò gì quan trọng. Lại có trường hợp người ta “nhét” một thầy cô nào đó mà hội đồng nghĩ rằng luận án này cần phải có chuyên môn của thầy cô đó, thật chẳng ra thể thống học thuật gì cả!
Vấn đề đầu ra trong đào tạo cũng đáng bàn ở đây. Ở nhiều nước tiên tiến và đang phát triển, kể cả Thái Lan và Mã Lai, đầu ra của chương trình đào tạo là những bài báo công bố trên các tập san quốc tế. Ở Thái Lan, họ đòi hỏi nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 bài trước khi bảo về luận án. Còn ở các nước Bắc Âu thì thông thường là 3-4 bài, và những bài này được đưa vào luận án trong phần kết quả nghiên cứu. Nhưng ở VN, chương trình đào tạo tiến sĩ chưa có những đòi hỏi về đầu ra gắt gao như ở nước ngoài. Do đó, việc học của họ rất … thoải mái. Có nơi lại còn có qui định trái chiều rằng nghiên cứu sinh không được công bố bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án! Với tiêu chuẩn đào tạo như thế, làm sao người tốt nghiệp có thể cạnh tranh với các đồng môn ở nước ngoài. Học vị tiến sĩ của VN có lẽ chỉ để VN sử dụng là chính.
Trong thời gian hơn 10 năm qua, tôi đã nhiều lần lên tiếng và góp ý về chương trình đào tạo tiến sĩ ở VN. Trong thời gian qua tình hình cũng có vài chuyển biến, nhưng nhìn chung thì chẳng theo chiều hướng tích cực hơn. Các quan chức vẫn nói đến hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục đại học, năng suất khoa học còn thấp, v.v. nhưng vấn đề đào tạo tiến sĩ còn sờ sờ trước mắt mà họ không giải quyết thì nói đến những chuyện khác có lẽ chỉ phí thì giờ. Theo tôi, nên ngưng một số chương trình đào tạo tiến sĩ để rà soát lại các chương trình đào tạo. Nếu nơi nào không đáp ứng tiêu chuẩn thì nên đóng cửa, không nên luyến tiếc. Phải dẹp bỏ những qui định hành chính vô duyên để tập trung vào các tiêu chuẩn khoa học.
Nguồn: Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn

Facebook
Twitter
RSS
0 nhận xét: